Cần Thơ, mảnh đất Tây Đô trù phú nơi châu thổ sông Mê Kông, không chỉ quyến rũ bởi vẻ đẹp sông nước hữu tình mà còn cất giữ bao tinh hoa văn hóa qua những làng nghề truyền thống. Trong số đó, làng nghề chằm nón lá ở ấp Thới Tân A là một điểm nhấn đặc biệt, nơi những đôi tay tài hoa vẫn ngày đêm giữ lửa cho một di sản cha ông.
Cần Thơ – Nét Duyên Con Gái Tây Đô Hòa Quyện Cùng Dấu Ấn Thời Gian
Từ thuở bình minh của vùng đất này, cách đây khoảng 2500 năm khi nước biển rút dần, hình thành nên châu thổ màu mỡ, Cần Thơ đã là nơi cư ngụ của nhiều thế hệ. Được khai mở và chính thức hiện diện trên bản đồ Việt Nam từ năm 1739 với tên gọi Trấn Giang, vùng đất này về sau còn được mệnh danh là Tây Đô – trái tim của Đồng bằng sông Cửu Long. Đến với Cần Thơ, du khách sẽ ngỡ ngàng trước vẻ đẹp nên thơ, bình dị của những làng xóm nép mình dưới rặng dừa xanh, lênh đênh trên xuồng khám phá hệ thống kênh rạch chằng chịt, tựa như nét thướt tha, đằm thắm của cô gái miền Tây. Thế nhưng, Cần Thơ không chỉ có vậy, nơi đây còn mang dáng dấp của một đô hội sầm uất, xa hoa mà câu ca dao xưa đã từng ngợi ca:
Bên cạnh vẻ đẹp thiên nhiên và sự sôi động của đô thị, Cần Thơ còn là cái nôi của sự đa dạng và phong phú trong các làng nghề truyền thống, được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Trong dòng chảy văn hóa ấy, làng nghề chằm nón lá ở ấp Thới Tân A, thuộc huyện Thới Lai, hiện lên như một nét chấm phá độc đáo, là minh chứng sống động cho sự bền bỉ và sáng tạo của người dân xứ Tây Đô.
Làng Nghề Chằm Nón Lá Thới Tân A – Dòng Chảy Bảy Mươi Năm
Mặc dù không ai còn nhớ rõ làng nghề chằm nón lá tại ấp Thới Tân A xuất hiện từ bao giờ hay vị tổ nghề là ai, nhưng theo lời kể của những bậc cao niên, nghề này đã gắn bó với mảnh đất này hơn 70 năm. Đó là một hành trình dài của những đôi tay cần mẫn, chắt chiu từng chiếc lá để tạo nên biểu tượng văn hóa. Hiện nay, Nghiệp đoàn chằm nón lá đã được thành lập, quy tụ trên 36 hộ gia đình cùng chung sống và mưu sinh với nghề. Gia đình bà Diện, với ba thế hệ nối tiếp nhau giữ gìn nghề truyền thống, là một minh chứng sống động cho tình yêu và sự gắn bó của người dân nơi đây với chiếc nón lá.
Khi Lá Mật Cật Hóa Thân Chiếc Nón Bài Thơ
Nét độc đáo của chiếc nón lá Thới Tân A nằm ở nguyên liệu đặc trưng và kỹ thuật riêng biệt của miền Nam. Khác với nón Bài thơ miền Trung thường dùng lá buông và dây thao, người thợ ở Thới Tân A cùng nhiều vùng Nam Bộ lại lựa chọn lá mật cật và cây trúc làm vật liệu chính. Lá mật cật là loại lá xòe rộng tựa lá cọ, mọc nhiều ở các tỉnh như Tây Ninh, Phú Quốc hay Cà Mau. Cây mật cật thân nhỏ, thấp, thường mọc thành bụi và có những chiếc gai nhọn dọc theo cọng lá. Đặc biệt, mỗi cây chỉ cho duy nhất một lá non – chiếc lá quý giá được người thợ chọn lựa kỹ càng để làm nên linh hồn của chiếc nón.

Để bắt đầu làm nón, người thợ cần một chiếc khuôn hình chóp, được gọi là “mô”, có kích thước tương đương chiếc nón thành phẩm, thường được bày bán tại các chợ. Trước những năm 80 của thế kỷ trước, nón lá truyền thống thường có 15 vành. Tuy nhiên, theo dòng chảy của thời gian và sự thay đổi thị hiếu, người dân Nam Bộ dần ưa chuộng kiểu nón lá xứ Huế với 16 vành, hay còn gọi là nón Bài thơ. Để đáp ứng nhu cầu thị trường, người thợ Thới Tân A cũng nhanh chóng thích nghi, chuyển sang sử dụng mô nón kiểu Huế.
Ngoài lá mật cật và nan trúc làm sườn, các vật liệu khác không thể thiếu để hoàn thiện một chiếc nón bao gồm: kim may tay số 10 sắc bén, những cuộn chỉ màu tươi tắn, dây gân số 04 bền chắc và giấy báo dùng để lót nón. Mỗi nguyên liệu đều đóng góp vào sự tinh xảo và vẻ đẹp của sản phẩm cuối cùng.
Thần Thái Người Thợ Gửi Vào Từng Đường Kim
Quy trình làm nón lá ở Thới Tân A mang những nét riêng độc đáo. Thay vì vừa chằm vừa gác nan tre lên khuôn như cách làm ở Tây Ninh, người thợ nơi đây bắt đầu bằng việc “kiềng vành” lên mô nón trước, sau đó mới đến công đoạn “kết lá”. Bước tiếp theo vô cùng quan trọng là “xoay lá” trên khuôn. Đây là công đoạn đòi hỏi sự khéo léo và kinh nghiệm dày dặn để lá được dàn đều, đẹp mắt. Người thợ sẽ xoay lớp lá bên trong trước, rồi đến lớp giấy báo lót, và cuối cùng là lớp lá bên ngoài. Sau khi định hình xong chóp nón, một cái vành khác sẽ được chụp lên bên ngoài khuôn để giữ lá cố định, tạo điều kiện thuận lợi cho công đoạn chằm nón.
Chằm nón là bước tương đối dễ dàng hơn so với các công đoạn khác, nhưng vẫn cần sự tỉ mỉ để những mũi kim đều đặn, khoảng cách vừa phải. Công đoạn cuối cùng và không kém phần quan trọng là “nức vành”. Người thợ sẽ dùng một cọng nan dẹp gọi là “cây tiến”, cặp vào vành nón số 16. Thao tác này giúp vành nón được tròn đều, chắc chắn, đảm bảo độ bền cho sản phẩm khi sử dụng. Để tăng thêm nét duyên dáng, người thợ còn khéo léo trang trí bên trong chóp nón bằng những đường chỉ thêu màu đỏ, xanh, hồng, tạo hình ngôi sao hay bông hoa nhỏ xinh, gửi gắm cả tâm huyết và sự sáng tạo vào từng chiếc nón.
Nón Lá Thới Tân A – Giữ Lửa Làng Nghề, Vững Chãi Nguồn Sinh Kế
Mặc dù nghề chằm nón lá ở ấp Thới Tân A không mang lại sự giàu có vượt trội, nhưng nó là nguồn thu nhập ổn định và bền vững cho nhiều hộ gia đình. Hiện tại, giá một kilogram lá mật cật trên thị trường dao động từ 80.000 đồng đến 90.000 đồng, đủ để làm ra khoảng 20 chiếc nón thông thường. Khi thành phẩm, mỗi chiếc nón lá được thương lái thu mua với giá khoảng 15.000 đồng. Tính toán sơ bộ, người thợ có thể thu lãi khoảng 8.000 đồng cho mỗi chiếc nón. Trung bình, một người thợ lành nghề, ngoài công việc chính trong ngày, có thể làm thêm từ 2 đến 3 chiếc nón, góp phần không nhỏ vào việc cải thiện kinh tế gia đình.
Sản phẩm nón lá của Nghiệp đoàn Thới Tân A chủ yếu được phân phối tại chợ Thới Lai và một số khu vực lân cận như chợ Vĩnh Thuận, Vĩnh Tuy, đảm bảo đầu ra ổn định cho người dân. Điều đáng quý là, không chỉ tạo công ăn việc làm, làng nghề còn thu hút sự quan tâm của du khách từ khắp mọi miền đất nước, về thăm và tìm hiểu về nghề truyền thống độc đáo này. Nhờ đó, chiếc nón lá Thới Tân A không chỉ là một vật dụng đời thường mà còn là một sứ giả văn hóa, kể câu chuyện về sự cần cù, khéo léo và tình yêu quê hương của người dân Cần Thơ, góp phần gìn giữ hồn Việt giữa nhịp sống hiện đại.